Phương pháp tính chuyển dữ liệu độ sâu đáy biển từ hệ quy chiếu quốc tế sang hệ quy chiếu tọa độ, độ cao quốc gia

Các tác giả

1 Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội, Việt Nam

DOI:

https://doi.org/10.5281/zenodo.15205483

Từ khóa:

Mô hình GEBCO2022, Độ sâu đáy biển, Mặt biển trung bình, Chuyển dữ liệu độ sâu đáy biển
Received 2026-06-23
Published 2025-04-14

Tóm tắt

Mục đích của nghiên cứu này là đưa ra phương pháp tính chuyển dữ liệu độ sâu đáy biển từ hệ quy chiếu quốc tế sang hệ quy chiếu tọa độ, độ cao quốc gia Việt Nam. Các mô hình độ sâu đáy biển toàn cầu có độ vĩ (B), độ kinh (L) của điểm trong hệ WGS-84 và độ sâu so với mặt biển trung bình quốc tế (DQT). Để tính chuyển sang hệ tọa độ VN2000 và độ sâu quốc gia thì cần phải xác định được độ cao trắc địa (H) của điểm trong WGS-84 và chênh lệch giữa mặt biển trung bình của Việt Nam và mặt biển trung bình quốc tế. Độ cao trắc địa này được xác định dựa vào độ cao geoid quốc tế từ mô hình EIGEN6C4; độ cao mặt biển trung bình quốc tế DTU15MDT và độ sâu quốc tế của điểm. Chênh lệch giữa hai mặt biển trung bình quốc gia và quốc tế được xác định dựa vào số liệu tại 31 trạm nghiệm triều của Việt Nam. Sau khi có được đầy đủ các thành phần tọa độ trong WGS84, tọa độ được tính chuyển bằng công thức Bursa-Wolf với 7 tham số chuyển đổi tọa độ giữa WGS-84 và VN2000. Thực nghiệm được tính toán đối với mô hình độ sâu GEBCO2022 trên khu vực giữa Biển Đông.

Downloads

Download data is not yet available.

Tài liệu tham khảo

[1] Dương Quốc Lương, “Quá trình hình thành và phát triển của công tác đo đạc và bản đồ biển”, Tuyển tập báo cáo Hội nghị khoa học, công nghệ toàn quốc ngành Đo đạc và Bản đồ. Nhà xuất bản Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam, ISBN: 978-604-952-272-7, 2018.

[2] Khương Văn Long, “Ứng dụng công nghệ khảo sát biển và định hướng phát triển ngành đo đạc biển hải quân sau năm 2020”, Tuyển tập báo cáo Hội nghị khoa học, công nghệ toàn quốc ngành Đo đạc và Bản đồ. Nhà xuất bản Tài nguyên - Môi trường và Bản đồ Việt Nam, ISBN: 978-604-952-272-7, 2018.

[3] GEBCO Compilation Group, “GEBCO 2020 Grid” (doi: 10.5285 / a29c5465-b138-234de053-6c86abc040b9), 2020.

[4] DTU Space, “DTU18BAT”, DTU Space, 2018.

[5] Bui, C.Q. and T.D. Tran, “Building an atlas of basic characteristics of natural and environmental conditions in Vietnam and adjacent waters”, State-level project KC-09-02, Marine Research Program, Hanoi, Vietnam, 2005.

[6] Nguyen, T.T., “Study of geological structure in deep sea (over 200m water) South Vietnam as a scientific basis for searching related mineral resources”, Final report on topic KC09.18/06-10, 2010.

[7] Hà Minh Hòa, “Nghiên cứu đánh giá các mặt chuẩn mực nước biển (mặt “0” độ sâu, trung bình và cao nhất) theo các phương pháp trắc địa, hải văn và kiến tạo hiện đại phục vụ xây dựng các công trình và quy hoạch đới bờ Việt Nam trong xu thế biến đổi khí hậu”, Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của dự án KC.09.19/11-15, 2015.

[8] Knudsen P., “The updated geodetic mean dynamic topography model – DTU15MDT”, Technical University of Denmark - Space, Kongens Lyngby, Denmark, 2016.

[9] Förste Ch., Bruinsma S., Abrykosov O., Lemoine J-M. et al., “The latest combined global gravity field model including GOCE data up to degree and order 2190 of GFZ Potsdam and GRGS Toulouse (EIGEN 6C4)”, 5th GOCE user workshop, Paris 25–28, Nov., 2014.

[10] E. Sinem Ince, Franz Barthelmes, Sven Reißland, Kirsten Elger, Christoph Förste, Frank Flechtner and Harald Schuh, “ICGEM - 15 years of successful collection and distribution of global gravitational models, associated services, and future plans”, Earth Syst. Sci. Data, p. 647-674, vol. 11, 2019. doi: https://doi.org/10.5194/essd-11-647-2019.

[11] Phạm Văn Tuyên, “Nghiên cứu giải pháp nâng cao độ chính xác xác định dị thường trọng lực bằng số liệu đo cao vệ tinh trên vùng biển Vịnh Bắc Bộ - Việt Nam”, Luận án tiến sĩ, Trường đại học Mỏ - Địa chất, 2023.

[12] Bernhard Hofmann-Wellenhof, Helmut Moritz, “Physical Geodesy”, ISBN-10 3-211-23548-1 Springer Wien New York, ISBN-13 978-3-211-23584-3 Springer Wien New York, 2005.

[13] William H Press và nnk., “Numerical recipes, Cambridge university press”, Cambridge The Art of Scientific Computing, 1986.

[14] Đặng Nam Chinh, “Hệ quy chiếu trắc địa”, Bài giảng cao học, Trường Đại học Mỏ - Địa chất, 2013.

[15] Bursa M., "The theory for the determination of the non-parallelism of the minor axis of the reference ellipsoid and the inertial polar axis of the Earth, and the planes of the initial astronomic and geodetic meridians from the observation of artificial Earth satellites", Stud. Geophys. Geod. 6, pp. 209-214, 1962.

[16] Bộ Tài nguyên và Môi trường, “Quyết định số 05/2007/QĐ-BTNMT, ngày 27 tháng 02 năm 2007, về sử dụng hệ thống tham số tính chuyển giữa Hệ tọa độ quốc tế WGS-84 và Hệ tọa độ quốc gia VN-2000”, 2007.

Lượt tải xuống

Đã Xuất bản

2025-04-14

Cách trích dẫn

[1]
“Phương pháp tính chuyển dữ liệu độ sâu đáy biển từ hệ quy chiếu quốc tế sang hệ quy chiếu tọa độ, độ cao quốc gia”, GeocartaGIS, vol 11, số p.h 02, tr 40–53, tháng 4 2025, doi: 10.5281/zenodo.15205483.

Các bài báo được đọc nhiều nhất của cùng tác giả

Các bài báo tương tự

1-10 trên 70

Bạn cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.